Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu Chuyện Tình Yêu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu Chuyện Tình Yêu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2011

Đôi vợ chồng mù và câu chuyện tình yêu cảm động

Chị mù bẩm sinh, anh mù từ nhỏ, cuộc đời họ tưởng sẽ vô định trong tăm tối. Nhưng số phận đã cho họ gặp rồi yêu nhau, xây một cuộc sống hạnh phúc, dựng một sự nghiệp mà nhiều người sáng mắt phải mơ ước.

Anh Tuấn, chị Quang hạnh phúc bên con trai
Những nỗi đau riêng

Chị sinh năm 1980, mang một cái tên thật nam tính: Nguyễn Nhật Quang. Mẹ chị bị bệnh phù người khi mang thai chị. Bà uống quá nhiều thuốc khiến chị bị dị tật từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, lúc chào đời thì đã mù.

Sáu tuổi, chị được gửi vào học tại Trường khuyết tật tại thành phố Long Xuyên (An Giang). Năm 1991, chị tiếp tục được đưa lên Trường khuyết tật Nguyễn Đình Chiểu (TP Hồ Chí Minh) để học tiếp lớp 6. Xa nhà, cô độc, chị bỏ về. Nhà gửi chị vào Trường khuyết tật Cần Thơ, chị lại trốn học về nhà. Mười ba tuổi, gia đình gửi chị vào chùa, được 2 năm, chị lại tìm đường về nhà.

Cha mẹ rầu rĩ gọi chị là trái sâu trên cây lành, nhà có năm đứa con, bốn người đều lành lặn và rất thành đạt, duy chỉ có chị là như thế. Chị chạnh lòng khóc mãi. Vài đêm thức trắng, chị tạm biệt cha mẹ vào lại Trường khuyết tật Cần Thơ, ở hẳn trong đó.

Anh lớn hơn chị một tuổi, quê ở tận Phụng Hiệp (Hậu Giang), là con cả trong một gia đình nghèo với tài sản lớn nhất là… bộ xoong nồi. Cha mẹ giữ ruộng thuê cho người khác, sống trong một cái chòi lá giữa đồng. Năm 1979, họ sinh ra anh ở đó, kháu khỉnh và khỏe mạnh, đặt tên là Bùi Văn Tuấn.

Ba tuổi, anh bị một trận sốt thừa sống thiếu chết, đôi mắt cứ mờ dần rồi đến một ngày nọ không thấy gì nữa. Từ căn chòi lá đó sau này tiếp tục ra đời thêm bốn người con nữa.

Tuấn là anh cả trong nhà, hàng ngày phải giữ em để cha mẹ đi kiếm cái ăn. Tối tăm, mò mẫm, anh buộc từng đứa em vào người mình, chờ cha mẹ. Đứa nào cũng đã từng “ị” đầy người anh. Chúng khóc ré lên, anh cũng ôm lấy các em mà khóc theo.

Mười ba tuổi, nhà anh chưa ăn bữa trưa đã lo bữa tối, anh Tuấn phải mò cua bắt ốc phụ giúp cha mẹ. Lớn tí nữa, anh cùng cha mẹ đi gặt lúa mướn. Anh bị mù nhưng sức vóc lắm, cha mẹ cắt xong là anh vác lúa chất lên bờ. “Người sáng mắt vác bó lúa đầu tiên để sẵn, mình vác lúa đi thẳng, chừng nào vấp vào bó lúa đó thì hạ xuống” - anh kể lại. Người sáng vác lúa đã vất vả, người tối như anh phải tốn gấp đôi sức lực vì phải dò đường. Vậy mà tuổi thanh niên của anh cũng như trang lứa, làm lụng không khác gì.

Năm 1998, cha mẹ già, các em đã khôn lớn, có thể làm lụng sinh sống. Thương Tuấn, họ gửi anh vào Trường khuyết tật Cần Thơ để anh được chăm sóc học hành. Ở trường, ngoài việc được ăn uống, anh còn được cấp 30 ngàn đồng mỗi tháng, anh tiêu 10 ngàn cho mình, 20 ngàn để dành gửi về. Đêm đến, Tuấn mò mẫm trèo tường ra ngoài bán vé số để kiếm tiền gửi về nhà. Trèo mãi, rách áo mãi nên vá chằng vá đụp, bị bắt phạt mãi nên… nổi tiếng. Được một thời gian, gia đình anh 6 người kéo nhau lên Bình Dương làm mướn rồi ở luôn trên đó hiếm khi về thăm. Anh Tuấn trở nên cô đơn, lầm lũi.

Tình yêu mãnh liệt

Ở cùng trường, anh chị quen nhau trong một ngày hội văn nghệ - thể thao của người khuyết tật. Lần ấy chị “chết điếng” giọng ca cổ trong vút của anh. Mới gặp mà như thân thiết. Vài lần, chuyện ngày một dài ra, nhiều hơn những nỗi niềm, tâm sự. Lần nọ chị cứ thắc mắc mãi vì sao anh không thấy gì mà vẫn vác lúa được, vẫn bắt cá tôm được? Anh đùa: “Ấy có muốn theo mình để “nhìn thấy” không? Mình bắt thật nhiêu tôm cá cho ấy ăn nhé”. Chỉ thế thôi mà chị xao xuyến mãi. Thế rồi họ yêu nhau.

Bốn năm sau, tình yêu vào độ chín, họ muốn thành chồng vợ. Gia đình hai bên tiếp nhận “hung tin”, thi nhau ngăn cản. Họ bảo nhà đã có một người mù rồi, rước thêm một người nữa thì chỉ làm khổ nhau. “Tụi chị có cần ai chăm sóc đâu, mù mắt nhưng bọn chị còn đôi tay, vẫn nuôi nhau được em ạ”- chị Quang kể lại.

Lời vào lời ra, tiếng đời dị nghị, anh Tuấn tức mình dắt tay chị đi. “Ngày ấy chị chẳng biết anh đưa đi đâu nữa, nhưng chị không sợ vì có anh bên cạnh em ạ. Bây giờ nghĩ lại, nếu không có ngày ấy, cuộc đời của anh chị chẳng bao giờ còn ý nghĩa”, chị ngậm ngùi.

Cơ sở Chẩn trị y học cổ truyền Nhật Tân của đôi vợ chồng mù và những người cùng cảnh ngộ

Anh Tuấn kể lại rằng thời gian đầu rời trường là lúc cuộc sống khắc nghiệt nhất, nhưng anh chị quyết không nản. Anh quyết tâm cho mọi người thấy anh chị có thể xây dựng cuộc sống hạnh phúc bằng đôi tay của mình. Họ thuê một căn phòng nhỏ ẩm thấp giá 180 ngàn đồng/tháng tại một con phố ở Cần Thơ rồi đi bán vé số kiếm sống. “Lúc đầu không có tiền thuê nhà, tụi anh phải trả góp mỗi ngày 3 ngàn đồng”, anh nhớ lại.

Hàng ngày anh chị dắt tay nhau đi từ 6 giờ sáng đến giữa khuya, tất cả các con đường của thành phố, từ chợ đến quán nhậu nơi nào cũng tới. Nghề bán vé số phải chịu nhiều tủi nhục, có chủ quán thương tình thì cho bán, có người thì xua đuổi. Có lúc anh chị không thấy nên vấp phải ly chén của quán, phải bồi thường đến vài chục ngàn, vậy là phải ăn cháo trắng buổi trưa mỗi tô 1 ngàn đồng để bù vào số tiền đã mất. Cũng có lúc người ta lừa anh chị dùng tiền giả mua vé số, rồi bị côn đồ giật mất vé, người ngã lăn ra đường. Anh đỡ chị đứng dậy và đi tiếp.

Mỗi ngày bán vé số được khoảng 30 ngàn, hai vợ chồng dành ra 10 ngàn để ăn uống, sinh hoạt, còn lại 20 ngàn đồng để dành dụm. Ba năm vật lộn, họ đã có một số vốn 16 triệu đồng để lo tính tương lai.

Năm 2005, từ một lần bán vé số, nghe được mẩu quảng cáo trên báo, anh chị xin vào làm tại cơ sở massage khiếm thị Vạn Thọ tại Long Xuyên (An Giang). Nơi đây, anh chị được ăn ở, làm việc trong những điều kiện đảm bảo, ổn định. Hai người rủ thêm 7 người khác cùng cảnh ngộ như mình vào làm tại cơ sở. Họ được chủ cơ sở đưa đi học một khóa massage, châm cứu cổ truyền tại Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh, được cấp chứng chỉ hành nghề và về làm việc tại Cơ sở Vạn Thọ 2 tại Cần Thơ, có thu nhập ổn định.

Ánh sáng của cuộc đời

Khi tôi đến thăm, anh Tuấn và chị Quang đã là ông bà chủ của Cơ sở Chẩn trị y học cổ truyền Nhật Tân, chuyên xông hơi, massage trị liệu do người khiếm thị đảm nhận. Ông chủ Tuấn tiếp chuyện khách khi tay vẫn thoăn thoắt các động tác xoa bóp cho khách. Anh cười: “Chủ tớ gì đâu, anh chị và mấy anh em thân lập nên cơ sở này, cùng làm việc, chia sẻ với nhau em ạ”.

Cơ sở Nhật Tân rộng chừng 120 m2 nằm tại số 12/11A đường Nguyễn Việt Hồng (quận Ninh Kiều, Cần Thơ) chia làm 2 tầng. Tầng trệt là phòng lễ tân rồi dẫn vào một phòng tắm hơi nhỏ, bên trong là phòng rộng hơn bố trí 5 giường. Tầng trên cũng có một phòng xoa bóp tương tự, phía trước là nơi để anh em nhân viên nghỉ ngơi và một căn phòng nhỏ dành cho tổ ấm của anh chị. Tất cả căn phòng đều ngăn nắp, gọn gàng và sạch sẽ. Những chiếc giường nhỏ được trải ra trắng toát, ánh sáng dịu dàng. Khách đến với cơ sở có cả người trong nước lẫn nước ngoài, phần vì thư giãn sức khỏe, phần vì khâm phục nghị lực của những người không may mắn.

“Cơ sở mới lập nên chưa đông khách, tụi anh phải chịu lỗ thời gian đầu em ạ” - anh Tuấn tâm sự. Hiện chi phí cho cơ sở quá cao, gần 10 triệu đồng/tháng nhưng khách đến chưa nhiều vì ngoài lượng khách thân thiết, cơ sở vẫn chưa có nhiều người biết. Cơ sở được anh chị lập nên với số vốn 40 triệu đồng từ những ngày bán vé số và làm nhân viên massage cộng thêm ngần ấy nữa tiền vay mượn. Thu nhập thấp nên cuộc sống của anh em còn khó khăn nhưng ai cũng đoàn kết vui vẻ, không nản chí. Ai cũng tin rằng cơ sở sẽ thành công vì nó không chỉ là miếng cơm manh áo mà còn là khao khát khẳng định mình của những người như anh.

Nhật Tân là tên đứa con trai đầu lòng của anh chị. Cậu bé một tuổi, kháu khỉnh và hiếu động. Anh đặt tên con với hy vọng cuộc đời con sẽ đổi mới, mãn nguyện, không bất hạnh như cha mẹ.

Chị kể lại: “Những ngày đầu mang thai, chị lại gặp phải sự phản kháng của hai gia đình, sự dị nghị của nhiều người. Họ bảo chị nghèo lại mù làm sao mà nuôi nổi con. Nhưng chị kệ, anh chị quyết tâm sinh ra nó, quyết cho nó một cuộc đời tử tế em ạ”. Chị nghỉ sinh, anh vẫn làm việc suốt ngày đêm để lo cho hai mẹ con. Ngày sinh con khỏe mạnh chị đã khóc thật nhiều vì vui sướng, anh bỏ việc tất tả chạy về để được sờ đứa con cho thỏa.

Nhờ sự giúp đỡ của người thân, bè bạn, chị cũng qua được những ngày đầu sau khi sinh cháu. “Một tháng đầu mắt cháu cứ khép lại em ạ. Anh chị lo sợ không ngủ được. Sờ mãi, sờ mãi mới nhận thấy con mở mắt, anh chị ôm nhau khóc vì sung sướng”. Lần đó chị khóc mãi, khóc gào lên thành tiếng vì hạnh phúc. “Cu cậu bây giờ lớn rồi, nghịch lắm, đêm nào cũng quậy không cho cha mẹ ngủ”, chị vừa nói vừa ôm thằng bé vào lòng, âu yếm vuốt ve khuôn mặt con. Thằng bé cười tinh nghịch theo từng ngón tay mẹ “chạy” trên mặt.

Mọi người đều khen thằng bé kháu khỉnh, không nhìn thấy nhưng anh chị tin, tin lắm. Vì đó là món quà trời ban cho anh chị để bù đắp lại nhưng bất hạnh, thiệt thòi. Anh chị vẫn bảo con là ánh sáng của cuộc đời, là mục đích sống của anh chị, giúp anh chị vượt qua những khó khăn trước mắt.

“Mai này cháu sẽ được học hành tử tế, có chỗ đứng trong xã hội, cháu sẽ là niềm tự hào của cha mẹ. Nghĩ thế thôi là chị rơi nước mắt” - chị nghẹn ngào tâm sự. Anh chị cho con cuộc đời, còn con cho anh chị một niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống: Rằng hạnh phúc luôn đến với những người biết sống yêu thương và biết khao khát.

Nhật Trường

Dantri.com

Chuyện tình của cô gái khuyết tật

Đó là một đám cưới đặc biệt. Chàng rể Phạm Văn Tân đẹp trai khỏe mạnh đi bên cạnh cô dâu Nguyễn Hải Yến đã bị mất một chân.

Cô dâu hơn chú rể hai tuổi và đám cưới của họ như một kết thúc có hậu cho một tình yêu phải vượt qua hàng ngàn cây số khi mà mỗi người ở một đầu đất nước...

Sau đám cưới ấy, Hải Yến đã viết về chuyện tình với tựa đề “Chàng công tử Bạc Liêu của tôi” để dự thi viết về “Mái ấm gia đình” do Đài truyền hình Việt Nam tổ chức năm 2007. Vượt qua 800 bài dự thi khác, “Chàng công tử Bạc Liêu của tôi” đạt giải nhất...

Chuyen tinh cua co gai khuyet tat

Nguyễn Hải Yến sinh ra trong một làng quê thuần nông ở Quảng Ninh. Nỗi đau đến quá sớm khi Yến vừa mới chào đời: mẹ cô mất. Yến lớn lên trong sự chăm sóc của bố và chị gái.

Nhưng rồi số phận lại giáng xuống một tai họa khủng khiếp. Yến bị tai nạn giao thông thảm khốc và sau đó cô mãi mãi không thể trở thành người bình thường được nữa. Tai nạn cướp mất một chân của Yến và cướp luôn những dự định về một tương lai xán lạn.

Nếu như trước đây Yến thường mơ ước cao xa thì giờ đây ngay cả những điều bình dị nhất cô cũng chẳng dám nghĩ tới. Nhưng rồi thời gian trôi qua, sức khỏe và tinh thần của Yến cũng dần hồi phục, cô gái khuyết tật này lại quyết thực hiện một dự định có vẻ “xa xỉ” lúc bấy giờ: Thi đại học.

Sau những ngày miệt mài ôn luyện, Yến thi đỗ vào Đại học Ngoại ngữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Những năm tháng học đại học, Yến đã nếm trải đủ cay đắng của một sinh viên khuyết tật, phải chịu quá nhiều khó khăn trên con đường học vấn, trong đó vẫn còn sự kỳ thị của bạn bè cùng giảng đường.

Sau nhiều trăn trở, đầu năm 2001, Yến quyết định đứng ra thành lập CLB Sinh viên khuyết tật Hà Nội, giúp các bạn sinh viên khuyết tật có một sân chơi, chia sẻ động viên nhau vượt lên số phận...

Nhưng khi CLB đi vào hoạt động thì lại có nhiều sinh viên bình thường khác, đến xin làm tình nguyện viên... Trong đó, có một tình nguyện viên đến và chẳng bao giờ chịu rời xa Yến nữa...

Đó là chàng sinh viên Phạm Văn Tân, quê ở mãi Bạc Liêu nhưng ra Hà Nội học ở khoa Hóa Đại học Khoa học Tự nhiên. Tân gọi Yến bằng chị và Yên cũng coi Tân như một cậu em.

Nhưng Yến vô tình không biết và cũng chẳng ngờ rằng “cậu em” đang để ý đến mình. Dần dần, Tân không gọi Yên là chị nữa mà thay vào đó là “nhà ngươi”, xưng “ta” hoặc chỉ gọi bằng tên mà thôi. Yến cũng chẳng hề hay biết đó là tín hiệu của một trái tim đang rung động trước mình.

Mùa hè 2002, Tân tìm đến văn phòng của CLB, xin được tình nguyện dạy tin học cho các bạn sinh viên khuyết tật. Những ngày đó, Tân thường xuyên có mặt bên cạnh Yến, dạy tin học cho cô và chia sẻ những công việc của CLB.

Những ngày ở gần Tân, Yến mới hiểu hoàn cảnh của Tân. Anh có một “tuổi thơ dữ dội”, bố bỏ rơi ba mẹ con để chạy theo một người đàn bà là “chị kết nghĩa” hơn ông mười mấy tuổi.

Không muốn con chứng kiến cảnh trái tai gai mắt, mẹ Tân đã đưa hai đứa con thơ dại từ Ninh Bình vào miền Nam rồi dừng chân ở Bạc Liêu, sao cho càng xa càng tốt. Một mình mẹ với hai bàn tay trắng, vừa dạy học, vừa buôn bán đồng quà tấm bánh cho học sinh lấy tiền nuôi hai con.

Hai đứa trẻ tuy còn nhỏ những đã biết đỡ đần giúp mẹ. Hàng ngày, ba mẹ con dậy từ tờ mờ sáng. Mẹ đi chợ mua bánh kẹo, trái cây để đem vào trường, tranh thủ giờ ra chơi bán cho học sinh. Tân thì lấy vé số, bánh ú để đi bán dạo.

Còn anh trai Tân thì lấy kem đem vào tận ruộng bán cho nông dân. Mấy năm trời, ba mẹ con sống cảnh ăn nhờ ở đậu, có nhiều đêm màn trời chiếu đất. Sau bao nhiêu ngày lăn lóc, chắt bóp mới mua được mảnh đất nho nhỏ, dựng căn nhà lá lấy chỗ nương thân.

Cho dù có lúc đói ăn nhưng mẹ Tân quyết không để hai con thất học. Hai cậu con trai sau giờ có đi bán vé số, bán kem lại miệt mài đèn sách. Năm lớp 12, Tân được chọn đi thi học sinh giỏi Hóa toàn quốc và được giải nhì...

Càng hiểu Tân, Yến càng thương Tân hơn, nhưng đó là tình thương của một người chị dành cho đứa em. Rồi tháng 10/2002, Yến được Bộ LĐ-TB&XH chọn đi dự Hội nghị khuyết tật thế giới tổ chức ở Trung Quốc và Nhật.

Yến về quê làm hộ chiếu và nhân dịp này rủ Tân cùng hai người bạn về nhà mình chơi rồi đi Hạ Long. Hôm ở Hạ Long, thấy Yến ngồi trên bờ, thẫn thờ nhìn mọi người xuống tắm, Tân chạy lên và bế thốc cô xuống nước. Yến giật mình. Không ngờ cậu con trai ít nói, có vẻ nhút nhát lại mạnh mẽ đến thế...

Yến kể lại cái ngày Tân tỏ tình với mình: “Sau lần đi Hạ Long đó, Tân đã tỏ tình với tôi. Tôi hốt hoảng từ chối và đưa ra nhiều lí do để Tân rút lại lời tỏ tình. Nào là: Tôi hơn tuổi Tân, tôi là người khuyết tật, gia đình hai đứa cách nhau xa quá...

Nhưng càng từ chối, càng lảng tránh thì Tân lại càng quyết tâm đến với tôi hơn. Cũng đến ngày tôi đi xa, tôi tưởng đó là quãng thời gian để Tân suy nghĩ lại. Nhưng càng xa tôi, Tân càng nhớ và yêu tôi hơn.

Tối nào Tân cũng lên mạng để mong gặp tôi, được nói chuyện với tôi. Không thấy tôi trả lời, Tân cuống lên: “Trả lời Tân đi chứ ! Đừng im lặng thế Yến ơi! Nói gì với Tân đi không Tân sợ...”. Tôi cũng vậy, xa Tân rồi mới thấy nhớ Tân da diết, tôi nhận ra mình đã yêu Tân mất rồi.

Nhưng cái khoảng cách về sự mặc cảm khiến tôi không dám mở lòng ra để đón nhận tình yêu của Tân. Tôi im lặng mà trong lòng buồn vô hạn. Những đêm ở xa Tân, tôi trằn trọc không ngủ được. Có nên nhận tình yêu này hay không? Tôi sợ một lúc nào đó, cái hạnh phúc mong manh này sẽ rời bỏ tôi mà đi...

Ngày tôi trở về, Tân ra tận sân bay đón. Những ngày tiếp theo, Tân luôn ở bên cạnh tôi, đưa tôi đi chơi khắp nơi mặc dầu cả hai đang bận rộn chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp. Ra ngoại thành, thăm làng hoa Nhật Tân, lên bờ đê sông Hồng...

Tân không ngần ngại khi bế tôi qua những chỗ khó đi. Tân làm tất cả để tôi vui. Những ngày yêu Tân, tôi mới được đi chơi, mới được biết Hà Nội còn nhiều nơi đẹp và lãng mạn đến thế!”.

Nhưng tình yêu của họ không phải chỉ là những chuyến đi ngoạn cảnh như vậy. Gia đình hai bên hết sức ngăn cản. Các chị gái của Yến phản đối vì cho rằng Tân bồng bột nhất thời mà nảy sinh tình cảm, sợ rồi đến một lúc nào đó, Tân sẽ thay lòng đổi dạ...

Các chị sợ lúc đó Yến sẽ không chịu nổi. Bạn bè thì nghi ngờ tình yêu của hai người và cho rằng nó không thực tế. Bố Tân ra sức cấm đoán trong khi mẹ và anh trai im lặng.

Nhưng tình yêu của Tân và Yến đã vượt qua mọi ngăn trở để rồi thăng hoa trong một đám cưới mà vào đầu thế kỉ tưởng như chỉ còn trong tiểu thuyết. Dẫu vậy, tình yêu dẫu có đẹp như thơ, khi đã chuyển sang hôn nhân thì chẳng dễ gì nuôi dưỡng, nhất là khi người vợ lại bị khuyết tật.

Nhưng cả hai đã “hòa nhập” rất nhanh và họ sống những ngày hạnh phúc như chẳng gì có thể thay đổi được điều đó. Những việc nội trợ giặt giũ, Yến không thể làm, Tân đều xắn tay vào giúp.

Một thời gian sau, họ háo hức chờ đợi đứa con đầu lòng. Nhưng niềm hạnh phúc sắp được làm cha mẹ đã vuột mất khi Yến bị sẩy thai ở tháng thứ 6. Yến đau đớn tuyệt vọng. Lúc ấy, Tân đã nén lòng lại để an ủi vợ. Nỗi đau cũng dần nguôi ngoai, Yến mở lớp dạy tiếng Anh tại nhà, còn Tân dạy Toán, Lý, Hóa. Họ sống ở Quảng Ninh ở một năm rồi chuyển vào TPHCM.

Những ngày đầu ở đô thành xa lạ, cả hai vợ chồng gặp vô vàn khó khăn. Có những lúc, chưa thuê được nhà Yến và Tân phải ở nhờ, mỗi người một nơi trong thành phố rộng lớn. Tân chở Yến đi xin việc nhiều nơi nhưng đều nhận được những cái lắc đầu.

Sau những ngày tháng long đong, giờ Yến làm phóng viên cho tạp chí Du lịch và Giải trí còn Tân đang bảo vệ luận văn Thạc sĩ môn Hóa học.

Giờ họ có một “công chúa”, Yến ôm bé gái vào lòng, ánh mắt tràn ngập yêu thương. Cô bảo: “Con gái của chúng tôi đấy, cháu mới 6 tháng tuổi, dễ thương và hiếu động lắm. Một mái ấm gia đình mà tôi tưởng chỉ có trong mơ, đã trở thành hiện thực. Và tôi tin rằng hạnh phúc sẽ luôn mỉm cười với những ai có niềm tin vào cuộc sống”.

Tân nói về tình yêu mà ai đó cho là “kỳ lạ” của mình: “Tôi yêu Yến vì nghị lực vì tâm hồn chứ không bao giờ để ý đến những thứ khác”.

(Theo Tiền Phong)

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2011

Anh còn muốn lấy em không?

Câu hỏi của em như xoáy vào tâm can tôi. Giá như, em còn trong trắng và có kiêu kì, tôi sẽ không bao giờ muốn lấy em...

Anh còn muốn lấy em không?
Trong mắt em, tôi thấy cả một niềm đau đớn... (Ảnh minh họa)

Tôi tự hỏi rằng: “Có phải với em, tôi chỉ như một thằng trai già đời nhưng khờ khạo trong tình yêu?”

Tôi gặp em trong đám cưới đôi bạn chung của hai đứa. Giữa những ồn ào, náo nhiệt của một cuộc vui, em lặng lẽ và kín đáo. Trong em có chút gì đó dịu dàng, chững chạc so với cái tuổi 25. Em cao mảnh khảnh, da bánh mật, mắt to, ướt và buồn. Nếu không được thằng bạn giới thiệu, có lẽ tôi đã trót buột miệng chào em bằng “chị” trong khi thực tế, em kém tôi những 3 tuổi tròn.

Sau buổi chiều tiệc tùng, tôi có dịp ngồi cạnh em trong bữa cơm mặn thân mật. Em nói ít, cười nhiều nhưng hình như còn buồn lắm. Tôi hỏi em một vài câu vu vơ gì đó, về tên tuổi, gia đình, về công việc và về sở thích, em chỉ ậm ừ trả lời qua quýt hoặc để vợ thằng bạn thân của tôi trả lời thay.

Vợ thằng bạn tếu táo:

- Anh mà cưới được nó, em cứ mừng cả cái nhà này...

Em cười gượng thay cho sự im lặng, còn tôi mặt bừng bừng vì hứng khởi:

- Anh chả cần cô tặng, anh cũng thừa nhà cho Lan sống... Chỉ sợ người ta chẳng ưng ý thôi.

Nhìn sắc mặt em lúc ấy, tôi biết rằng mình là thằng vô duyên quá mức. Và chắc chắn rằng, em chẳng có ấn tượng gì với tôi.

Sau ngày gặp nhau hôm ấy, tôi trở về với cuộc sống yêu đương nhăng nhít của mình. Xung quanh tôi - một phó giám đốc trẻ, đẹp trai và cũng xếp vàp hàng có tiền, có hàng tá các em trẻ đẹp vây quanh. Tôi cặp đủ với các em từ tuổi teen nhí nhảnh, tiểu thư sành điệu, đến các cô gái quê mùa chất phác cũng có... nhưng chưa bao giờ, tôi có khái niệm về một tình yêu.

Hàng ngày, mỗi buổi sáng thức dậy, tôi nhận được những tin nhắn dịu dàng từ họ. Mỗi chiều tôi đưa họ đi chơi, mua sắm theo sở thích của họ. Họ đáp trả tấm thịnh tình ấy bằng những nụ cười tươi rói mãn nguyện hoặc cái gườm gườm đáng yêu như chú mèo con tinh nghịch. Với họ, tôi chẳng khi nào phải buồn phiền. Mà nếu có buồn phiền thì tôi dứt khoát chia tay. Tôi tự cho rằng: yêu mà buồn thì chẳng thà bỏ quách tình yêu mà sống còn hơn.

Gặp em được 1 tuần, tôi quyết định chia tay cô gái tuổi teen ngốc nghếch mà tôi vừa gắn gó được hai tháng. Tôi xin số điện thoại của em vào vạch kế hoạch chinh phục...

Thì ra, em không khó gần như tôi nghĩ. Sau 2 tiếng đồng hồ nhắn tin, tôi đã mời được em đi uống nước vào ngay tối hôm đó.

Trời mưa tầm tã nhưng em rất đúng hẹn. Em xuất hiện với sự dịu dàng, mỏng manh quá mức khiến tôi ớn lạnh bởi cảm giác muốn được che chở, muốn được ôm ấp tâm hồn buồn bã kia. Tôi và em nói chuyện quanh co về những cuốn tiểu thuyết cả hai cùng đọc, về những nơi cả hai cùng đến hay về những đứa bạn cùng quen. Tôi nhận thấy em khá hờ hững với từng câu chuyện tôi kể.

Anh còn muốn lấy em không?, Bạn trẻ - Cuộc sống, Chuyen tinh yeu, trong trang, tinh yeu, yeu em

Giá như, em còn trong trắng và có kiêu kì, tôi sẽ không bao giờ muốn lấy em... (Ảnh minh họa)

Cuối tuần, tôi nhắn tin ngỏ ý muốn đến nhà em chơi. Em đồng ý không chút dè dặt. Khu nhà trọ của em cách rất xa trung tâm thành phố và tồi tàn trên mức tưởng tượng của tôi. Đêm đó, tôi đã có một cảm giác thực sự đặc biệt khi ở lại với em. Một cảm giác bình yên khó tả. Mưa tầm tã và gió xối xả nhưng không sao cưỡng lại sự ngây ngất đê mê từ em.

Tôi cũng nhận ra một đều gì đó chua xót về em. Em không còn trong trắng nữa mà có lẽ cái đó cũng chẳng quan trọng gì với một gã như tôi. Tôi chỉ mải mê chinh phục, rồi mải mê chạy trốn mà thôi.

Tôi bỏ rơi em theo đúng nghĩa một thằng sở khanh khốn nạn để rồi 2 tuần sau nữa, tôi lại đến tìm em trong cảm giác nhớ nhung vời vợi. Em ốm, hay hình như em không được khỏe. Căn phòng trọ em bừa bộn với những mớ giấy tờ, những vỏ bao cao su còn sót lại. Cả mắt và môi em nhợt nhạt đến nao lòng. Tôi trùng giọng xuống hỏi mà đau xót:

- Tại sao người như cô lại làm cái nghề này?

- Tôi quen rồi.

Tôi rùng mình trước câu trả lời của em, câu trả lời của một người con gái mỏng manh, yếu đuối chẳng khác câu trả lời của những đứa con gái rẻ tiền.

Những ngày sau đó, tôi tiếp tục đến thăm em sau giờ làm. Tôi nghĩ mình nên có một phần trách nhiệm với cuộc sống của em. Tôi mua hoa về trồng ở bậu cửa nhà trọ, phủ lại căn phòng tồi tàn của em bằng những lớp sơn màu sáng, tôi sắp sếp lại đống sách vở, thay cho em những đôi giày đã sờn và lỗi mốt... Tôi làm tất cả công việc mà tôi chưa bao giờ động tới chỉ vì tình thương với em. Tôi đinh ninh thế.

Em khỏe lại dần và đền đáp tôi bằng những bữa cơm thật ấm áp, những quan tâm dịu dàng, chân thật. Dường như, em được sinh ra từ sự dịu dàng tinh tế. Để rồi, tôi yêu em lúc nào tôi cũng chẳng hay biết, yêu một cách si mê, cuồng dại không vì điều gì mà cũng chẳng cần gì hết...

Tôi nói với em chân thành rằng:

- Anh muốn lấy em.

Em cười như chưa bao giờ biết giọt nước mắt:

- Anh đùa à?

Trong mắt em, tôi thấy cả một niềm đau đớn: Em sinh ra và lớn lên trong một trại trẻ mồ côi của huyện. Người ta thay nhau nhận em về nuôi và thay nhau làm nhục cho đến một ngày em nhận được người cha thực sự nhưng lúc ấy, ông đã mù và đang nằm chờ chết.

Em vừa phải theo học đại học, vừa phải kiếm tiền nuôi cha. Em đã chọn con đường bán thân để có tiền ăn học. Anh à, em không hư hỏng vì tiền mà có chăng vì cần tiền, em buộc phải hư hỏng....

- Chỉ vì bấy nhiêu thôi, anh còn muốn lấy em không?...

Tôi vẫn đang kiếm tìm em, kiếm tìm để kể cho em nghe những lầm tưởng về tình yêu của tôi trong quá khứ. Giá như, em còn trong trắng và có kiêu kì, tôi sẽ không bao giờ muốn lấy em...



Nguồn (Pháp luật xã hội)